Hội nghị tập huấn tài liệu thí điểm công nghệ giáo dục năm học 2015 - 2016 và tổng kết năm học 2014 - 2015

03/08/2015 536

Ngày 27/5/2015, tại thành phố Hà Nội, Bộ Giáo dục & Đào tạo và Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam đã tổ chức "Hội nghị tập huấn tài liệu thí điểm Công nghệ giáo dục năm học 2015 - 2016 và tổng kết năm học 2014 - 2015".

Đây là hội nghị tập huấn dành cho cán bộ quản lý, giáo viên đứng lớp trong việc triển khai tài liệu thí điểm Công nghệ giáo dục năm học 2015 – 2016 ở một số môn: Tiếng Việt 2, 3; Văn 2, 3; Toán 1, 2, 3; Giáo dục lối sống 1, 2; Tiếng Anh 2; Đất nước học 2 và Mĩ thuật 1.

Đến dự khai mạc hội thảo có GS.TS. Vũ Văn Hùng, Tổng Giám đốc – Tổng Biên tập Nhà XBGDVN; Phó Vụ Trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học Nguyễn Đức Hữu, chuyên viên Vụ GDTH Ngô Hiền Tuyên. Tham gia hội thảo có các cán bộ quản lý và giáo viên các Sở Giáo dục Hải Phòng, Vĩnh Long, Hải Dương; trường Thực nghiệm Tây Ninh; trường tiểu học Thực nghiệm Hà Nội, trường tiểu học Công nghệ giáo dục Hà Nội, trường tiểu học IQ Hà Đông và toàn thể cán bộ Trung tâm Công nghệ giáo dục – Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam (CGD).

Qua hai năm học áp dụng tài liệu thí điểm - Công nghệ giáo dục tại địa phương, Trung tâm CGD  đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp cho việc hoàn thiện sách phù hợp với học sinh và giáo viên hơn nữa. Vụ Giáo dục Tiểu học và các Sở GD & ĐT có các trường dạy thí điểm đã tích cực theo dõi, giám sát quá trình và kết quả thí điểm. Sau đây là báo cáo tổng kết các môn thí điểm Công nghệ giáo dục năm học 2014 - 2015.

 

 

BÁO CÁO TỔNG KẾT CÁC MÔN THÍ ĐIỂM CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

NĂM HỌC 2014 – 2015

 

 

I. Về môn học và phạm vi triển khai

1. Về môn học:

Năm học 2014 – 2015 triển khai:

– Thí điểm vòng 2 các môn: Toán 1, Giáo dục lối sống 1, Tiếng Việt 2 và Văn 2.

– Thí điểm mới các môn : Mĩ thuật 1, Toán 2, Tiếng Anh 2, Đất nước học 2, Tiếng Việt 3 và Văn 3.

2. Phạm vi triển khai:

Thực hiện tại 08 tỉnh / thành phố với tổng số 19 trường, gồm : Hà Nội (2 trường), Tây Ninh (1 trường), Nam Định (2 trường), Lào Cai (2 trường), Hải Dương (1 trường), Lạng Sơn (2 trường), Hải Phòng (7 trường), Vĩnh Long (2 trường).

– Tổng số học sinh tham gia: 4.299 HS. Trong đó:

+ Lớp 1: 2.847 HS

+ Lớp 2: 1.155 HS

+ Lớp 3: 297 HS

II. Về tình hình triển khai

Ở Trung ương

1. Thuận lợi:

– Về mặt quản lí, chỉ đạo:

+ Được sự cho phép và chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo qua Công văn số 4132/BGD ĐT-GDTH ngày 6/8/2014 của Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển gửi NXBGDVN.

+ Được sự quan tâm, phối hợp chỉ đạo của Vụ GDTH.

+ Được sự quan tâm của Lãnh đạo NXBGDVN trong việc tổ chức triển khai, biên soạn và xuất bản sách; tổ chức hội nghị tập huấn giáo viên tại Hà Nội và các công tác liên quan việc triển khai kế hoạch thí điểm sách CGD.

– Về sự hưởng ứng của địa phương:

+ Được sự hưởng ứng nhiệt tình của địa phương.

+ Các trường chủ động, tự nguyện tham gia.

+ Sở GD&ĐT và Phòng GD tiểu học và các Phòng GD huyện thống nhất, quan tâm chỉ đạo.

– Về tài liệu môn học :

+ Năm học 2014 – 2015, các môn Toán 1, GDLS1, Tiếng Việt 2 và Văn 2 được thực nghiệm vòng 2, tài liệu đã được cập nhật, chỉnh sửa, hoàn thiện. Giáo viên đã qua một năm thực thi nên công việc nhẹ nhàng hơn, học sinh tiếp nhận hiệu quả hơn.

+ Các khâu liên quan đến quá trình xuất bản sách như biên tập, chế bản, phát hành ... đã thuận lợi hơn nhiều so với năm trước do các bên liên quan đã hiểu rõ hơn về tài liệu, về quy trình và cách làm.

2. Khó khăn

Là năm thứ hai triển khai thí điểm mở rộng CGD, mặc dù có nhiều thuận lợi về các mặt nhờ kinh nghiệm từ năm trước, song vẫn tồn tại một số khó khăn.

+ Một số Sở GD&ĐT chưa quan tâm chỉ đạo các trường với lí do không có công văn của Bộ GD&ĐT gửi cho các Sở.

+ Hội nghị tập huấn đầu năm còn chậm trễ, thời gian tập huấn gấp.

+ Tiến độ biên tập, chế bản một số cuốn sách còn chậm so với yêu cầu, do đó, gửi sách về địa phương không kịp so với kế hoạch năm học.

+ Đội ngũ cán bộ của Trung tâm CGD còn mỏng nên tiến độ làm bộ sách CGD chưa được như mong muốn.

Đánh giá từ địa phương

1. Thuận lợi

– Được sự quan tâm của Trung tâm CGD – NXBGDVN trong phối hợp công tác, đến dự giờ, hỗ trợ kĩ thuật, trao đổi với cán bộ, giáo viên.

– Về giáo viên và nhà trường: Các trường thực hiện thí điểm đều đã từng triển khai Công nghệ giáo dục với môn Tiếng Việt lớp 1, do đó giáo viên đã được làm quen với cách làm mới, có nơi giáo viên đã thành thạo từ nhiều năm. Hơn nữa, năm học 2014 – 2015 là năm thứ hai triển khai thí điểm mở rộng các môn mới nên giáo viên đã quen cách làm, chủ động phối hợp với các bên để thực hiện hiệu quả hơn.

+ Các Phòng GD&ĐT đều phân công chuyên viên phụ trách, chủ động lập kế hoạch hỗ trợ, kiểm tra giám sát, đánh giá kết quả, quán triệt tinh thần triển khai cho CBQL nhà trường và giáo viên, chỉ đạo tuyên truyền sâu rộng đến PHHS về CGD. Có nơi đã thành lập tổ công tác chuyên môn, xây dựng kế hoạch cụ thể từng tháng, từng học kì, tổ chức hội thảo chuyên đề, dự giờ, hướng dẫn triển khai.

+ Ban Giám hiệu nhà trường và đội ngũ giáo viên dạy chương trình thí điểm sẵn sàng tiếp thu cái mới, tiếp thu những tiến bộ khoa học vào thực tiễn, không ngại thay đổi từ phương pháp cũ sang phương pháp mới. Giáo viên nhiệt tình, trách nhiệm, tâm huyết, được giao quyền chủ động về thời gian và lượng kiến thức cho phù hợp với đặc điểm từng lớp; được tập huấn trực tiếp về CGD;

+ Giáo viên không phải soạn bài nên có nhiều thời gian nghiên cứu tài liệu, trau dồi chuyên môn.

– Về phía cha mẹ học sinh: Cha mẹ học sinh đã tin tưởng hơn, yên tâm cho con theo học chương trình CGD. Đa số phụ huynh còn trẻ, nhiệt tình ủng hộ việc thực hiện chương trình, quan tâm theo dõi sát quá trình học tập của con.

– Về mặt phương pháp: Chương trình CGD có phương pháp tích cực. Học sinh luôn được tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động, tự tin; thông qua việc làm, các thao tác trên vật thật, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em tự tìm ra và chiếm lĩnh tri thức theo logic của bản thân khái niệm, phát triển khả năng tư duy và năng lực tối ưu của mình.

– Quá trình dạy học theo phương pháp CGD không chỉ giúp giáo viên nâng cao trình độ và năng lực, nâng cao nghiệp vụ sư phạm mà cách tổ chức dạy học theo quy trình công nghệ còn giúp giáo viên đổi mới phương pháp một cách triệt để.

– Nội dung thể hiện trong sách giáo khoa rất logic, tường minh, dễ hiểu. Với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh có thể nắm bắt kiến thức và đọc sách giáo khoa dễ dàng.

2. Khó khăn:

– Một số nơi, Sở GD&ĐT chưa có sự chỉ đạo bằng văn bản để Nhà trường yên tâm thực hiện (VD Lào Cai).

– Một số trường sĩ số học sinh đông (thường là trên 40 em / lớp).

– Có tỉnh triển khai năm đầu nên giáo viên chưa có kinh nghiệm với các môn mới.

– Năm học 2014 – 2015, Nam Định triển khai môn Toán 2, nhưng hầu hết giáo viên chưa dạy và chưa được tập huấn Toán 1 nên có những kiến thức liên quan từ lớp 1 giáo viên phải nghiên cứu thêm. Giáo viên vừa dạy vừa nghiên cứu, chưa có thời gian nghiên cứu sâu.

– Thời gian tập huấn không nhiều, lịch tập huấn gấp, chưa đủ để giáo viên thấu hiểu, trao đổi, thảo luận, học hỏi, chia sẻ lẫn nhau.

– SGK và đồ dùng dạy học không cung cấp đồng bộ ngay từ đầu năm.

– Chưa có tài liệu tham khảo bổ trợ khác để giáo viên và CBQL hiểu sâu hơn về nội dung chương trình.

– Môn Tiếng Anh chưa có đĩa tiếng như kế hoạch đã định.

III. Đánh giá của các Trường về tài liệu thí điểm

1. Toán 1

Ưu điểm:

– SGK được in màu đẹp, kênh hình kênh chữ rõ ràng. Sau 1 năm học, SGK và sách bài tập đã được chỉnh sửa phù hợp hơn cả về kiến thức và thời lượng của tiết học, học sinh học nhẹ nhàng, hiệu quả.

 Các trường triển khai và thực hiện giảng dạy môn Toán 1 đảm bảo theo đúng nội dung phân phối chương trình.

 Giáo viên tuân thủ theo từng việc rõ ràng trong sách thiết kế.

 Học toán, học sinh được thực hiện các thao tác học tập trên vật thật. Do vậy học sinh tham gia tiết học sôi nổi, khơi gợi được sự ham mê, thích thú của học sinh trong các tiết học.

 Dưới sự tổ chức của giáo viên, học sinh độc lập tìm ra các kiến thức toán học rất hiệu quả. Điều đó đã giúp học sinh nắm vững và hiểu rõ bản chất của các kiến thức toán học tìm được, có những suy nghĩ và lập luận logic, khoa học.

+ Học sinh biết cách làm bài, trình bày bài theo đúng yêu cầu.

+ Diễn đạt đúng, rõ ràng các nội dung đã học bằng lời.

 Sau một năm triển khai dạy thí điểm theo tài liệu đã chỉnh sửa, bộ tài liệu đáp ứng tương đối tốt nhu cầu của người dạy, phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ em đầu cấp tiểu học.

Nhược điểm:

– Phần ghi số ở cuối tập 1 dài, lượng thời gian dành cho phần đó ít, học sinh gặp khó khăn.

Kết quả: 100% hoàn thành.

2. Giáo dục lối sống 1

Ưu điểm:

– Đến nay, bộ sách đã ổn định, đồng bộ gồm sách thiết kế cho GV, sách cho cha mẹ HS và sách bài tập cho HS. Nội dung sách rất thiết thực với HS lớp 1. Giáo viên và học sinh rất yêu thích môn học này.

– Sách Giáo dục lối sống dành cho cha mẹ học sinh được các bậc cha mẹ học sinh rất tâm đắc, hiệu quả thiết thực. Phụ huynh nhiệt tình hưởng ứng, đánh giá cao tính thiết thực và tầm quan trọng của nội dung mà học sinh được học.

– Năm học 2014 – 2015 đã có sách Bài tập GDLS 1 (2 tập) với hình ảnh minh hoạ chi tiết, hấp dẫn, mô tả rõ các thao tác để học sinh làm theo. Học sinh rất hứng thú với sách bài tập này.

– Có nơi có nhu cầu dạy GDLS thay cho môn Đạo đức và tiếp tục triển khai GDLS lớp 2 năm học 2015 – 2016 và các lớp kế tiếp (Lạng Sơn; Tiểu học CNGD Hà Nội).

Nhược điểm:

– Cần điều chỉnh lại nội dung một số tiết dạy cho phù hợp hơn với thời gian tiết học, có tiết ngắn, có tiết dài (VD bài về Ăn trưa, ngủ trưa, bài Em là học sinh lớp 1).

– Cần trang bị thêm băng hình, tranh ảnh đi kèm.

Kết quả: 100% HS hoàn thành. Biết tôn trọng bản thân, tôn trọng người khác, tự tin và sống có trách nhiệm.

3. Tiếng Việt 2

Ưu điểm:

– Sau 1 năm triển khai, SGK và sách Thiết kế đã được cập nhật, điều chỉnh phù hợp hơn với học sinh, giáo viên dễ dạy hơn.

– Thiết kế Tiếng Việt 2: Phần lớn các bài dễ dạy, phù hợp với đối tượng học sinh. Nội dung thiết kế đưa ra cụ thể, rõ ràng từng bài học. Thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu, các thao tác nhẹ nhàng, các việc giữa giáo viên và học sinh nhịp nhàng.

– Học sinh được làm chủ hoạt động học của mình, tích cực hóa trong từng nhiệm vụ học tập. Học sinh được tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động và tự tin. Dưới sự hướng dẫn của GV, Học sinh tự tìm ra và chiếm lĩnh tri thức, được phát huy khả năng tư duy và năng lực tối ưu của mình.

– Quá trình dạy học TV2 – CGD giúp nâng cao trình độ và năng lực nghiệp vụ sư phạm. Đồng thời nâng cao khả năng nghiên cứu tài liệu, khả năng tổ chức bài học, giờ học theo quy trình công nghệ, giúp Giáo viên tự đổi mới căn bản về phương pháp giảng dạy.

– Nội dung chương trình được thiết kế cụ thể, tỉ mỉ. Học sinh được đào sâu, luyện tập nhiều lần. Với riêng phần bài về “Câu”, học sinh được tìm hiểu kỹ từng thành phần, từng chức năng, được phân biệt rõ từ/ vật thật, sự việc/ câu. Vì vậy, khả năng ghi nhớ và nắm bắt bài học của Học sinh tốt hơn.

– Nội dung các bài học mang tính nối tiếp. Bài học trước là điểm tựa để tiếp thu bài học sau. Vì vậy học sinh có thể nắm chắc bài học hơn, hiểu tường minh hơn. Nội dung khái niệm về hai loại câu tả và câu luận là khá rõ ràng, học sinh dễ hiểu.

– Hệ thống các khái niệm được Học sinh chủ động chiếm lĩnh dựa trên cơ sở vật thật. Khả năng hiểu sâu, hiểu kỹ từng vấn đề, từng nội dung bài học của Học sinh thuận lợi hơn.

Nhược điểm:

– Một số khái niệm còn khó với học sinh (đặc biệt là bài phân loại Từ hai tiếng, các bài Âm của từ, các từ Và/Hoặc, Này/Nọ, Những/Các; một số từ khó dùng...).

– Một số vật liệu đưa ra cho học sinh còn chưa phù hợp và chưa hay. Ví dụ như: Vật liệu “Cô giáo khó ở” trong bài “Thành phần giữ chức năng vị”…

 Với phần bài “Một số từ khó dùng”, khái niệm và cách dùng của những “từ khó dùng” đưa ra chưa tường minh, rõ ràng và chưa dễ hiểu. Phần thiết kế cho những bài học này chưa rõ ràng từng thao tác, GV mất nhiều thời gian để nắm bắt nội dung bài để hướng dẫn cho học sinh.

– Một số khái niệm cách dùng từ chưa chính xác như: Khái niệm “Và dùng khi có cả hai sự vật/sự việc”; Hoặc sử dụng khi có một trong hai hoặc có cả hai sự vật/ sự việc.

– Phần nêu cách dùng của từ “Ai” chưa đầy đủ. Trong sách Thiết kế mới chỉ đưa ra từ Ai dùng để chỉ một người nào đó bất kỳ, hoặc có thể chỉ chính mình mà không muốn nói ra. Trong khi, từ Ai còn có thể dùng để hỏi. Cách thức để tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh trong bài học này chủ yếu là thảo luận. Điều này chưa hợp lý và khó thực hiện với đối tượng học sinh lớp 2.

– Ở nhiều bài học, phần việc 3, sau thao tác đọc, học sinh lại được luyện tập một nội dung kiến thức không liên quan tới bài học hiện tại đang học. Ví dụ như bài “Ai”, bài “Mọi, mỗi, tất cả, từng”, bài “Này/ Nọ”, bài “Những/Các” ….

– Ở phần việc 4, viết chính tả, thao tác cho Học viết một số từ khó đôi khi không cần thiết. Vì có nhiều bài đọc không có nhiều từ khó, Học sinh không cần thiết phải được viết nháp trước.

– Một số hình ảnh trong SGK có màu sắc không rõ ràng (sách in 2 màu xanh đen), học sinh gặp khó khăn khi quan sát và mô tả vật thật.

– Một số từ ở miền Bắc chưa phù hợp ở miền Nam (phản ánh từ Vĩnh Long).

– Nhiều bài đọc còn dài quá. Một số bài tập trong STK không có đáp án.

– Vở tập viết còn bị nhoè mực.

Kết quả: 100% HS hoàn thành.

4. Môn Văn 2

Ưu điểm:

– SGK in đẹp, rõ ràng. Nội dung, cấu trúc đảm bảo tính khoa học.

– Sách thiết kế: Đảm bảo thiết kế đủ các nội dung cơ bản. Trình bày rõ ràng theo tuần, bài. Sách ghi rõ từng tuần. Ảnh minh hoạ rõ.

– Các bài đồng dao, ca dao, truyện dân gian ngắn gọn, nội dung các bài gần gũi với HS lớp 2.

– Nội dung các tiết được sắp xếp hợp lý giúp người dạy và người học dễ dạy và dễ học

– Học các bài đồng dao, ca dao, truyện dân gian đã hình thành cho HS những thao tác, kĩ năng cơ bản để tiếp cận với tác phẩm và bồi dưỡng được phảm chất nhân văn và năng lực biểu đạt ngôn ngữ cho HS.

 GV không phải soạn giáo án nên có thời gian đọc và nghiên cứu tài liệu.

Nhược điểm:

 Việc 3 có nhiều hoạt động thực hành của học sinh nên khi giảng dạy thường GV không đảm bảo thời gian.

 Hệ thống câu hỏi trong 1 số bài còn khó, chưa phù hợp với HS.

 Một số bài đọc trong sách giáo khoa hơi dài.

* Kiến nghị:

 Hoàn thiện thêm sách Thiết kế dựa theo đặc điểm tâm lí và khả năng tiếp nhận của học sinh lớp 2, cân đối với thời lượng giờ dạy thực tế.

 Đề bài kiểm tra cần thiết kế cho phù hợp với Thông tư 30, có thể ra theo ma trận để giáo viên dễ xây dựng đề.

 Thiết kế cần có mục tiêu cụ thể cho từng bài để giáo viên dễ xác định mục tiêu dạy học.

 Cung cấp bộ tranh dạy môn tiếng Việt và văn, những tranh có liên quan đến bài dạy.

Kết quả:

 Tây Ninh, Lào Cai, Trường tiểu học CGD Hà Nội 100% hoàn thành.

– Trường TH Thực nghiệm có 1 em chưa hoàn thành (điểm dưới 5). Không thấy báo cáo lý do.

5. Môn Toán 2

Ưu điểm:

– SGK trình bày đẹp, kênh hình kênh chữ rõ ràng gây hứng thú cho học sinh.

 Nội dung phù hợp, học sinh nắm được bài và làm bài tốt, phát triển tư duy cho học sinh, đặc biệt là học sinh khá giỏi.

 Phần Số và Chữ số phát triển trí thông minh của học sinh, học sinh khá giỏi làm tốt.

 Phần Phép tính cộng trừ: Thiết kế đưa ra nhiều Kĩ thuật để học sinh vận dụng làm tính cộng trừ, mà không cần nhớ máy móc như chương trình cũ.

 Phần hệ đếm: Phát triển trí tưởng tượng của học sinh.

 Phần giải phương trình: Đây là nội dung có nhiều ưu điểm nhất, thiết kế đã đưa ra được phương pháp giải quyết bài toán có lời vân rất hay bằng cách giải phương trình. Bên cạnh đó phương trình mở rộng đã kích thích được sự phát triển của các em học sinh giỏi

 Phầng giải toán: Các dạng toán đơn và hợp là phù hợp với học sinh, cách giải hay và không bị áp đặt.

 Phần hình học: phù hợp với lứa tuổi khi nội dung đưa ra chỉ mang tính giới thiệu từ đơn giản đến phức tạp, đáp ứng được năng lực của học sinh khá, giỏi.

Nhược điểm:

– Chương trình mới và khác hẳn chương trình hiện hành về nội dung và phương pháp nên cần có bộ bản thảo tổng thể để cấp tỉnh, cấp huyện nghiên cứu chỉ đạo, định hướng chuyên môn.

– Hầu hết GV dạy toán 2 chưa từng dạy và tập huấn toán 1 nên có những kiến thức liên quan từ lớp 1 GV lại mất thời gian nghiên cứu thêm.

– Một số tiết thiết kế còn quá dài, chưa thống nhất, ăn khớp với SGK và SBT.

– Phần giải phương trình: Nên dừng lại ở 3 dạng phương trình cơ bản.

– Mỗi dạng toán nên có bài giải mẫu để học sinh dễ trình bày.

 Với phương trình mở rộng còn có nhiều dạng và số lớn nên học sinh còn lúng túng.

 Cộng trừ số lớn quá và có nhớ nhiều lần trong một phương trình nên học sinh dễ nhầm, dễ sai. Nội dung tính nhanh chỉ phát triển cho học sinh tiếp thu nhanh. Phép tính chỉ dừng lại cộng trừ 4 chữ số và nhớ tối đa 2 lần.

 Ở sách giáo khoa và sách thiết kế có một số nội dung không đồng nhất.

Kết quả:

– Nam Định, Tây Ninh và Trường TH CGD Hà Nội 100% hoàn thành.

– Có 3/110 em ở Trường TH Nguyễn Du - Lào Cai chưa hoàn thành.

* Kiến nghị với môn Toán 1, Toán 2:

 Trong năm học 2015 - 2016, cần cung cấp đầy đủ kịp thời sách giáo khoa, thiết kế Toán 2, đồ dùng dạy học Toán 1 đúng thời gian theo kế hoạch năm học của Bộ quy định.

– Tổ chức tập huấn sử dụng tài liệu sớm hơn để giáo viên có thời gian nghiên cứu thêm sau khi dự lớp. Tập huấn sau 15/8 sẽ gây khó khăn cho trường.

 Tăng cường hỗ trợ kĩ thuật, đồng thời, Bộ tạo điều kiện để giáo viên được tham gia các lớp tập huấn, tiếp xúc với các chuyên gia viết sách, tiếp cận với bộ sách lớp 2, lớp 3 nhiều hơn nữa trong thời gian trước năm học.

Về tài liệu:

 Điều chỉnh sách thiết kế, sách giáo khoa sao cho phù hợp với các vùng miền.

 Nên có chú thích nghĩa của từ ở miền Bắc và ở miền Nam.

 SGK và đồ dùng cần in ấn đẹp hơn, đưa về địa phương sớm. Đồ dùng dạy học Toán 1 bổ sung thêm thẻ chục và thẻ trăm.

– Nên có chế độ đãi ngộ nhiều hơn nữa cho đội ngũ giáo viên và trường tham gia giảng dạy thí điểm CGD.

6. Môn Đất nước học 2

Ưu điểm:

 Sách giáo khoa cung cấp những kiến thức cơ bản, lượng kênh hình và kênh chữ phù hợp, có chọn lọc.

 Ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp với HS.

 Hình thức đẹp, hấp dẫn.

 Sách thiết kế đảm bảo nội dung bài học, chi tiết.

Nhược điểm:

– Tài liệu mềm còn hạn chế, GV chủ yếu tìm trên internet.

– Một số tiết nội dung kiến thức còn dài (Lịch, xác định thời gian).

– Chưa có sách bài tập. Theo thiết kế 3 tiết/tuần, đối với học sinh lớp 2 thì lượng kiến thức còn khá nặng.

Kết quả: 100% hoàn thành.

7. Môn Tiếng Anh 2

Sách Tiếng Anh 2 được áp dụng linh hoạt, phù hợp với đối tượng học sinh tuỳ theo điều kiện thực tế của mỗi địa phương. Trường Tiểu học thực nghiệm Hà Nội dạy cho học sinh lớp 2. Trường Thực nghiệm GDPT Tây Ninh dạy cho học sinh lớp 3.

Ưu điểm:

SGK và SBT in 4 màu, trình bày đẹp, khoa học, hiện đại, gây hứng thú cho học sinh.

Sách thiết kế cho GV cụ thể, ngắn gọn, dễ hiểu, thao tác rõ ràng, dễ thực hiện.

* Trường Tiểu học Thực nghiệm Hà Nội kiến nghị:

– Làm thêm cho giáo viên một bộ tranh như trong sách giáo khoa và sách bài tập.

– Cần có băng, đĩa cho các bài hát và bài học từ vựng, hội thoại…

Kết quả: 100% HS hoàn thành. Trường TH Thực Nghiệm 85% loại giỏi và chỉ có 1 HS trung bình.

8. Môn Tiếng Việt 3

Ưu điểm:

– SGK in rõ ràng. Kiến thức phù hợp, ngữ liệu mẫu cho từng bài được chọn lọc kĩ. Các bài tập đọc có nội dung phong phú, mang tính giáo dục sâu sắc.

– Sách thiết kế phân phối thời gian cho từng tuần, rõ ràng, cụ thể. Giáo viên dễ thực hiện, HS nắm chắc bài.

Nhược điểm:

– Việc 4 của môn TV có nhiều hoạt động thực hành của học sinh nên khi giảng dạy thường GV không đảm bảo thời gian.

 Hệ thống câu hỏi trong 1 số bài Tiếng Việt còn khó, chưa phù hợp với HS.

 Đề bài kiểm tra cần thiết kế cho phù hợp với Thông tư 30 hiện nay, có thể ra theo ma trận để giáo viên dễ xây dựng đề.

 Thiết kế cần có mục tiêu cụ thể cho từng bài để giáo viên dễ xác định mục tiêu dạy học.

 Trong thiết kế cần chi tiết cụ thể từng thao tác để giáo viên dễ nghiên cứu và giảng dạy, nhất là Việc 1 Hình thành khái niệm.

 Đề nghị Trung tâm CGD cấp sách kịp thời cho học sinh và sách thiết kế cho giáo viên.

– Một số tiết trong STK chưa khớp với phần viết chính tả.

Kết quả: 100% hoàn thành.

9. Môn Văn 3

Ưu điểm:

– SGK rõ ràng, kiến thức phù hợp.

– STK phân phối cụ thể cho từng tuần, GV và học sinh thực hiện dễ dàng, hiệu quả.

Nhược điểm:

 Một số bài đọc trong sách giáo khoa hơi dài.

 Việc 3 có nhiều hoạt động thực hành của học sinh nên khi dạy thường GV không đảm bảo thời gian.

 Hệ thống câu hỏi trong 1 số bài còn khó, chưa phù hợp với HS.

Kết quả: Tây Ninh và Lào Cai 100% HS hoàn thành. Trường TH Thực nghiệm có 2 học sinh yếu (không báo cáo lí do).

10. Môn Mĩ thuật 1

Ưu điểm:

– Ưu điểm vượt trội của môn Mĩ thuật 1 – CGD là quan điểm lấy học sinh làm trung tâm. Học sinh tự tin thể hiện suy nghĩ của bản thân, biết tôn trọng ý kiến cá nhân, hứng thú học tập và sáng tạo. Mỗi học sinh đều có sản phẩm của riêng mình.

– SGK in màu đẹp, hình ảnh phong phú, gần gũi. Kiến thức logic xuyên suốt, chặt chẽ từ bài này sang bài khác, không theo lối mòn.

 Học sinh có cái nhìn đa chiều về mĩ thuật (mĩ thuật không chỉ có vẽ, mà còn có điêu khắc, nhiếp ảnh...).

– Lượng kiến thức phù hợp với học sinh, mỗi học sinh được sáng tạo theo năng khiếu riêng, mỗi em đều có sản phẩm của riêng mình.

Kết quả: 100% hoàn thành.

Nhược điểm:

– Phần trình bày bài vẽ của học sinh nên để phần vẽ và phần bìa khác màu nhau để tránh học sinh vẽ và tô chườm ra ngoài.

– Một số tranh chưa thể hiện rõ được ý đồ của sách.

– Có thể bổ sung thêm 1 – 2 tiết nặn để học sinh được tiếp cận với nhiều loại chất liệu hơn.

IV. Kết quả kiểm tra, đánh giá học kì I

Xin xem Bảng tổng hợp kết quả cuối năm của các trường kèm theo.

V. Ý kiến của BGĐ Trung tâm CGD

 Trung tâm sẽ tiếp thu có chọn lọc các ý kiến góp ý của giáo viên để chỉnh sửa sách cho phù hợp.

 Rút kinh nghiệm về tập huấn GV môn Toán: GV Toán lớp 2 phải được tập huấn cả Toán lớp 1 để nắm được logic khái niệm từ lớp 1 thì mới làm đúng và hiệu quả. Năm học 2015 – 2016, GV Toán lớp 3 phải được tập huấn cả Toán 1 và Toán 2.

 Trung tâm sẽ tăng thời lượng cho các môn Toán và Tiếng Việt vào đợt tập huấn năm 2015.

 Trung tâm sẽ phối hợp cùng các đơn vị trong NXBGDVN bổ sung tài liệu bổ trợ môn Toán 1, GDLS 1, Tiếng Anh 2.

Theo TS Ngô Hiền Tuyên - Công nghệ giáo dục

 

Bình luận